Trong hình là cuộn dây gọi là cuộn Ruhmkorff, được sử dụng vào cuối thế kỷ 19 như một nguồn điện áp rất cao. Nó được đặt tên theo nhà phát minh người Đức Heinrich Ruhmkorff (1803-1877), người đã thương mại hóa việc sản xuất bằng sáng chế này. Cuộn Ruhmkorff thực chất là một máy biến áp lớn, trong đó cuộn sơ cấp chứa tương đối ít vòng dây (vài chục hoặc vài trăm), trong khi cuộn thứ cấp chứa đến hàng triệu vòng dây. Bằng cách này, điện áp thấp ở cuộn sơ cấp (khoảng 5V) có thể tạo ra điện áp cao ở cuộn thứ cấp (khoảng 100 kV). Điện áp được tạo ra ở cuộn thứ cấp ban đầu được tính toán từ chiều dài tia lửa giữa hai đầu nhọn (trong hình được đánh dấu là "Spark gap") được nối vào cuộn thứ cấp.
Vấn đề duy nhất là máy biến áp cần một nguồn điện xoay chiều để hoạt động, mà vào thời điểm đó, nguồn điện áp xoay chiều rất hiếm. Cần phải phát triển một cơ chế để từ nguồn điện áp một chiều có thể tạo ra điện áp xoay chiều. Chính ý tưởng về cách thức hoạt động của cơ chế này là điều làm nên sự khéo léo của cuộn dây Ruhmkorff. Cụ thể, nó sử dụng cái gọi là công tắc rung (trong hình là "Vibrator"). Nguyên lý hoạt động của công tắc rung như sau: Khi thiết bị được nối với nguồn điện áp một chiều (ví dụ như pin), công tắc rung (hay còn gọi là bộ ngắt rung) sẽ tiếp xúc với đầu kim loại (trong hình là "Tip") và đóng mạch điện. Dòng điện lúc này đi qua cuộn sơ cấp tạo ra từ trường trong lõi sắt (trong hình là "Iron core") của cuộn sơ cấp, và từ trường này hút công tắc rung. Công tắc rung sau đó tách khỏi đầu kim loại, ngắt mạch điện và không còn lực từ hút công tắc rung nữa. Công tắc rung sau đó, nhờ vào lực đàn hồi, quay trở lại vị trí ban đầu nơi nó tiếp xúc với đầu kim loại, mạch điện lại được đóng, và quá trình này lặp lại từ đầu. Bằng cách này, một dòng điện xoay chiều, hoặc điện áp xoay chiều, được tạo ra ở cuộn sơ cấp.

Một mô hình đơn giản của cuộn dây Ruhmkorff được hiển thị trong hình bên trên. Mục tiêu của nhiệm vụ này là xác định tần số của điện áp xoay chiều thu được ở cuộn sơ cấp.
Ta sẽ hoàn toàn bỏ qua cuộn thứ cấp, cũng như độ tự cảm của cuộn sơ cấp. Lực đàn hồi được mô hình hóa bằng một lực không đổi N. Biến trở có tổng điện trở Ω, chiều dài cm, và đầu trái của nó trùng với đầu phải của lõi sắt của cuộn sơ cấp. Pin có điện áp V.
a) Tìm biểu thức cho dòng điện chạy qua mạch sơ cấp khi công tắc rung nằm ở khoảng cách từ đầu phải của lõi sắt của cuộn sơ cấp. Biểu thị kết quả theo , , và .
b) Viết biểu thức cho cảm ứng từ của cuộn sơ cấp tại vị trí của công tắc rung. Người ta chỉ ra rằng cảm ứng từ gần đầu cuộn dây xấp xỉ bằng một nửa cảm ứng từ ở tâm cuộn dây. Tất nhiên, giả sử rằng công tắc rung rất gần đầu cuộn sơ cấp, tức là . Số vòng dây trên một đơn vị chiều dài của cuộn sơ cấp là m-1, độ từ thẩm tương đối của sắt là , và độ từ thẩm của chân không là T.m/A.
c) Viết biểu thức cho tổng lực tác dụng lên công tắc rung, nếu từ trường tác dụng lực lên công tắc rung, trong đó là cảm ứng từ tại vị trí của công tắc rung, và là hằng số tỷ lệ phụ thuộc vào vật liệu và kích thước của công tắc rung, và đối với công tắc rung của chúng ta là N/T.
d) Xác định vị trí cân bằng của công tắc rung. Giả định có hợp lý không?
e) Tính tần số dao động của công tắc rung nếu khối lượng của công tắc rung là g. Đối với và số thực .
Bạn có thể sử dụng phép gần đúng: .